Phù thành huyện hương tích tự quan các ①

涪城县香积寺官阁① · nguồn qimao · trang gốc

Tự phía dưới xuân sông sâu không lưu, sườn núi quan các khác hẳn thêm sầu. ②

Chứa gió thúy bích mây mảnh, cõng ngày đan phong vạn mộc nhiều. ③

Tiểu viện hành lang xuân yên tĩnh, tắm phù bay lộ muộn ung dung. ④

Chư thiên hợp tại đằng la bên ngoài, đen kịt ứng cần đến bên trên. ⑤

[Chú thích]

Phù thành huyện: thời nhà Đường trước tiên thuộc miên châu, lớn lịch mười ba năm (778) Sau thuộc tử châu, trị sở tại nay Tứ Xuyên ba đài Tây Bắc vườn hoa trấn. Hương tích tự: trên phù thành huyện đông nam hương tích sơn, bắc gối phù sông. ② Quan các: trên hương tích sơn. Khác hẳn: sâu xa mạo. ③ Chứa: xen lẫn. Đan phong: cây phong. Trở lên bốn câu thi nhân trèo lên quan các hi vọng chi cảnh. ④ "Tiểu viện" hai câu: này các gối sơn cúi sông, nguyên nhân tại trong các, gần gặp mùa xuân nhỏ viện hành lang yên tĩnh nhiên, tầm nhìn xa chạng vạng tối chi tắm phù, bay lộ khoan thai. Phù: vịt hoang. Yên tĩnh: viết hoàn cảnh chi u; ung dung: hình dáng vật tính chi rảnh rỗi. Thạch cư sĩ mây: "Thượng cú nói là, ta bồi hồi tại quan các ở giữa, vừa cảm giác tiểu viện hành lang chi xuân yên tĩnh, cảnh không thể chơi. Phía dưới câu nói là, ta đứng trên cao nhìn ra xa tại quan các bên ngoài, lại gặp tắm phù bay lộ chi muộn ung dung, lúc lại đương quy, nhưng không biết sao cũng?" (《 Giấu Vân Sơn Phòng Đỗ luật lời giải thơ thất luật cuốn lên) ⑤ chư thiên: chỉ trong Phật giáo thần giới chúng thần vị, này chỉ hương tích đỉnh núi trong chùa Phật tượng. Hợp: hẳn là.

[Bình tích]

Rộng đức năm đầu (763) Xuân, Đỗ Phủ làm tại đi qua phù thành huyện lúc. Thơ viết đứng tại sườn núi quan các hi vọng đến cảnh sắc, tan hiểm trở, thanh u làm một thể, động tĩnh, đậm nhạt tôn nhau lên, làm cho người say mê. Bài liên dặn dò cảnh vật phương vị, dưới núi sông, sườn núi các, trên núi có tự, tại cấp độ rõ ràng ở giữa lại vẽ ra nước sâu thế núi hiểm trở dáng vẻ. Câu đối thứ hai trong luật thi kế viết sơn chi hiểm trở, một tia vân bị gió thổi, xuôi theo thanh thúy vách đá lượn lờ lên cao, dưới trời chiều dày đặc đứng sừng sững lấy vạn cây đan phong. Cái cổ liên truyền quan trong các tiểu viện hành lang uốn khúc yên tĩnh cùng xuân trong nước tắm phù bay lộ nhàn nhã, lại khắc hoạ ra một bộ thanh u phong quang. Cuối cùng liên lấy tưởng tượng vô căn cứ làm kết, có nhiều tình thú, nhiên "Đằng la", "Đen kịt" ngữ điệu, vừa tối viết ra sơn tự vị trí chi hiểm cùng leo lên không dễ. Trương phan bình nói: "Chơi ý thơ, tắc thì tự tại đỉnh núi, các tại sườn núi. Từ tự phía dưới nói lên, cúi đầu ngẩng đầu một núi, bao nhiêu khúc chiết, tận nên tám câu bên trong. Tả cảnh cần như thế, mới có vị trí, mới có thứ tự." (《 Đọc sách đường đỗ thơ chú giải quyển 9)